Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII – Phần 2

Cùng với đó các quỹ đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ này cũng có những thay đổi quan trọng. Nếu như trước đây là các quỹ đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là quỹ đầu tư mạo hiểm sẵn sàng chấp nhận rùi ro khi khung pháp lý ở Việt Nam còn chưa đầy đủ, TTCK chưa thành lập…thì ở giai đoạn này, các quỹ được lập ở Việt Nam đều do các nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của thị trường Việt Nam.

          Tuy nhiên sang năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, trước những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam, dòng vốn FII có dấu hiệu chững lại và có xu hướng đảo chiều và chỉ có dấu hiệu quay trở lại từ quý II/2009.

Tính tới thời điểm cuối năm 2009 trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã có khoảng 12.439 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có trên 1.149 tài khoản là của các tổ chức nước ngoài bao gồm các quỹ đầu tư và các tổ chức kinh tế khác của nước ngoài. Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 1,5% số nhà đầu tư tham gia TTCK, nhưng khối lượng giao dịch lại chiếm tới 20 – 25%. Cụ thể, trong năm 2006 – 2007, giao dịch của khối nhà đầu tư nước ngoài chiếm tới gần 25% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường. Năm 2008, mặc dù tình hình thị trường trong nước và ngoài nước không khả quan, nhưng khối lượng giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tới gần 20% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường.

Việc khai thông, duy trì dòng vốn FII là cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế, tuy nhiên đồng hành với nó là các chính sách kinh tế vĩ mô phải linh hoạt và đồng bộ nhằm đảm bảo khả năng khống chế và kiểm soát rủi ro của dòng vốn này. Đây là vấn đề phức tạp và hầu như không thể có được những công cụ thống nhất để xử lý, các quốc gia phát triển đều gặp phải những khó khăn này và đây là lúc chúng ta cần nhanh chóng đưa ra những quyết sách phù hợp dựa trên nguyên lý thị trường và trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế.

Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII – Phần 3

Những vấn đề được nêu ra dưới đây không chỉ là những trở ngại hiện nay đối với sự phát triển bền vững của dòng vốn FII ở Việt Nam, mà cũng là những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài đã, đang và đang muốn tham gia vào thị trường vốn đầu tư gián tiếp ở Việt Nam.

  1. Chưa có định hướng rõ ràng về dòng vốn FII, chính sách chưa đồng bộ nhằm thu hút và quản lý một cách hiệu quả vốn FII. Đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam có những chính sách cũng như biện pháp cụ thể nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn cho nền kinh tế nói chung, các ngành kinh tế nói riêng, Tuy nhiên, đối với nguồn vốn FII thì những chính sách nhằm tăng cường khả năng thu hút của Việt Nam vẫn chưa được xây dựng chi tiết, cụ thể như đối với FDI. Đặc biệt, sau các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tâm lý chung đối với nguồn vốn FII là tương đối e dè, lo ngại trước những tác động của nguồn vốn này đối với nền kinh tế trong nước. Trên thực tế, cần có những phân tích, đánh giá đúng vai trò và ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực của nguồn vốn FFI, từ đó xây dựng chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, đóng góp và sự phát triển của TTCK và nền kinh tế
  2. Công tác thu thập dữ liệu và bảo vệ nguồn vốn FII phục vụ cho điều hành chính sách kinh tế vĩ mô không thể thực hiện được một cách chính xác. Hiện tại cơ quan chức năng chỉ kiểm soát được dòng vốn FII trên TTCK tập trung trên cơ sở cấp mã số giao dịch, còn đối với việc tam gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường tự do thì không kiểm soát được. Đối với ngân hàng Nhà nước, việc theo dõi hoạt động lưu chuyển của dòng vốn FII liên quan tới hoạt động đầu tư trên TTCK, cũng như hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư nói chung chưa được bóc tách từ hoạt động lưu chuyển ngoại hối nói chung, bao gồm cả lưu chuyển vốn liên quan tới hoạt động thương mại xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư (FDI và FII) hay các hoạt động khác trên tài khoản vốn.
  3. Việc phân công trách nhiệm, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý vốn FII còn chưa hợp lý. Chưa có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động quản lý, giám sát hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và hoạt động quản lý dòng vốn và phối hợp, chia sẻ thông tin trong quản lý vốn FII đã hạn chế đến việc tham vấn, hoạch định chính sách vĩ mô để điều tiết các dòng vốn này cũng như hoạt động TTCK.
  4. Hệ thống công nghệ thông tin, nhân sự phục vụ công tác quản lý, giám sát dòng vốn FII còn hạn chế. Với số lượng nhân sự hạn chế, hệ thống công nghệ thông tin hầu như chưa có, công tác quản lý hiện tại hoàn toàn thủ công, theo nguyên tắc giám sát từ xa và dựa trên số liệu báo cáo theo kỳ của các thành viên thị trường, khiến cho cơ sở dữ liệu về dòng vốn FII là không đầy đủ, không chính xác và kịp thời. Năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế.
  5. Thị trường tài chính chưa phát triển, còn thiếu tính đồn bộ và yếu tố phát triển bền vững. Đây vừa là nguyên nhân, vừa là hạn chế trong việc thu hút dòng vốn FII cũng như duy trì sự ổn định của dòng vốn này. Một khi thị trường tài chính phát triển, minh bạch, sản phẩm tài chính đa dạng, cơ chế xác định giá chứng khoán vận hành theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh, đảm bảo sự hợp lý trong giá chứng khoán thì đây là những yếu tố quan trọng đảm bảo dòng vốn FII ổn định, giảm thiểu nguy cơ đào thoát vốn.
  6. Một số cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu rõ về vốn FII, nắm bắt chưa đầy đủ về cơ chế vận hành của dòng vốn này. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh hoạt động thương mại thì dòng chảy vốn đầy tư và nhân lực sẽ được khai thông. Đây không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm trong việc mở cửa thị trường để tiếp nhận những dòng lưu chuyển này. Tuy nhiên, dòng vốn FII mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tiềm tàng rủi ro nhất định. Vì vậy, thách thức đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước là phải giám sát được dòng vốn này và không nên ngăn cản bằng biện pháp hành chính.

7. Việc tiếp cận nhà đầu tư nước ngoài, TTCK nước ngoài của các tổ chức phát hành Việt Nam còn hạn chế. Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể tham gia TTCK Việt Nam bằng cách tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm tài chính, chứng khoán phát hành trên lãnh thổ Việt Nam. Việc phát hành chứng khoán hoặc hỗ trợ các tổ chức lưu ký quốc tế phát hành các loại chứng khoán phái sinh (chẳng hạn chứng chỉ lưu ký phát hành tại nước ngoài) dựa trên chứng khoán cơ sở phát hành tại Việt nam chưa được quan tâm đúng mức.

Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII – Phần 1

Nhìn lại lịch sử thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) của Việt Nam có thể tạm chia thành ba giai đoạn phát triển.

Giai đoạn 1991-1997: Mặc dù chưa có thị trường chứng khoán (TTCK), thực tế đã có một dòng vốn FII vào Việt Nam từ những năm đầu của thập niên 1990 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế mở cửa. Giai đoạn này chỉ có 7 quỹ được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD nhằm mục đích đầu tư tài chính tại Việt Nam. Trong đó có 4 quỹ đại chúng niêm yết tại một số thị trường quốc tế như Anh, Ireland… Sau khi Vệt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, giá trị giao dịch chứng chỉ quỹ của các quỹ này luôn cao hơn giá trị tài sản ròng. Tuy nhiên không lâu sau đó vào năm 1996 và 1997, giá chứng chỉ quỹ của 4 quỹ niêm yết này đã giảm mạnh và liên tục được giao dịch thấp hơn từ 43,6% – 47,7% so với giá trị tài sản ròng. Đây là giai đoạn khó khăn của các quỹ có mục tiêu đầu tư tại Việt Nam do cơ hội đầu tư còn hạn chế, thị trường tài chính còn manh nha chưa phát triển. Vào thời kỳ này số doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa rất ít. Từ 1992-1998 chỉ có 38 doanh nghiệp tư nhân được thành lập và 128 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

Giai đoạn 1997-2002: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1998, làn sóng đầu tư nước ngoài (gồm cả trực tiếp và gián tiếp) vào châu Á bị chững lại và giảm quy mô. Mặc dù Việt Nam được đánh giá là một trong số ít nước bị ảnh hưởng nhất nhưng tình hình vốn FII cũng không sáng sủa hơn các quốc gia trong khu vực. Trong thời gian 1998-2002, không những không có quỹ đầu tư mới nào được thành lập mà các quỹ thành lập trước đó lại đua nhau rút vốn hoặc giảm quy mô hoạt động. Trong số 7 quỹ đầu tư đã có hoạt động tại Việt Nam, 5 quỹ đã rút hoạt động, 1 thu hẹp quy mô đến 90%, chỉ còn lại duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập tháng 7/1995 với quy mô nhỏ nhất trong số 7 quỹ là còn tồn tại hoạt động cho đến nay.

Giai đoạn 2003 đến nay: Từ năm 2003 trở đi, dòng vốn FII vào Việt Nam mới thực sự được xem là phục hồi và ngày càng tăng lên cùng với việc môi trường đầu tư được cải thiện; cùng với đó là sự ra đời của hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở TP. HCM và Hà Nội cũng như chủ trương và quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn và nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các doanh nghiệp nước ngoài trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa từ 30% lên 49%…

Sự phục hồi của dòng vốn FII vào Việt Nam được tăng dần qua các năm và tăng đột biến trong năm 2006 và 2007. Theo số liệu của ngân hàng ANZ thì tổng mức vốn FII vào Việt Nam giai đoạn 2001-2006 ước khoảng 12 tỉ USD và năm 2007 khoảng 5,7 tỉ USD.

Thương hiệu riêng cho cây và con – Phần 2

Thương hiệu riêng cho cây và con

Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, muốn nâng giá trị hàng hóa nông sản tại ĐBSCL thì cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ hỗ trợ cho hàng hóa nông sản được đưa về tiêu thụ tại các thành phố lớn phải thuận tiện hơn, và khi sản lượng đạt đến mức lớn, nhà đầu tư sẽ xây dựng nhà máy chế biến nhằm tạo giá trị gia tăng cho từng sản phẩm theo nhu cầu của thị trường.

Bên cạnh đó, hiện nay Hậu Giang đã có lợi thế là vùng nguyên liệu, nhưng hầu hết chỉ là nguyên liệu thô, giá trị gia tăng còn thấp, cho nên hỗ trợ nhà đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm sẽ có cơ hội tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực nông nghiệp. Đặc biệt là cây lúa và thủy sản bởi theo dự báo chung thì nhu cầu lương thực vẫn tăng cao trong những năm tới trên thị trường thế giới. Nhưng mặt khác Hậu Giang cần nghiên cứu để tạo ra thương hiệu cho từng loại gạo, nhằm tăng giá trị mỗi hạt gạo làm ra. Hiện giá trị xuất khẩu gạo chung của tỉnh có tăng nhưng không nhiều, chưa có nhiều thương hiệu gạo có giá trị xuất khẩu cao.

“Xuất khẩu gạo hiện nay chỉ là xuất thô, đánh đồng như nhau nên không có thương hiệu gì cho từng loại gạo. Nên nghiên cứu để tạo ra vùng trồng riêng, đóng bao, quy cách tạo tên tuổi đặc trưng riêng của từng vùng, sẽ làm tăng giá trị hạt gạo lên nhiều lần”, giáo sư Võ Tòng Xuân nói.

Theo ông Nguyễn Phong Quang, bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang, bên cạnh việc quy hoạch phát triển các vùng nguyên liệu nông sản tập trung để phát triển các loại cây trồng và vật nuôi thế mạng, tỉnh Hậu Giang đang đưa ra chiến lược phát triển công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị cho hàng hóa. Hầu hết các khu công nghiệp tại Hậu Giang đều được tính toán và xây dựng tại các khu vực thuận tiện về giao thông, cơ sở hạ tầng có tính gắn kết với toàn vùng; đặc biệt là gắn kết với trung tâm Cần Thơ và thuận lợi để kết nối với các trung tâm lớn khác như TP. HCM.

Thực tế cho thấy nguồn vốn đầu tư vào Hậu Giang đang có sự gia tăng rất tích cực, đặc biệt từ khi cầu Cần Thơ đưa vào sử dụng trong thời gian qua.

 

Thương hiệu riêng cho cây và con – Phần 1

Với vị trí địa lý là trung tâm tiểu vùng Tây sông Hậu, Hậu Giang có một vùng nguyên liệu nông sản dồi dào, là tiềm năng to lớn để phát triển ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và thủy hải sản.

 Thế mạnh “5 cây, 5 con” 

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, mỗi tỉnh tại ĐBSCL cần xác định được thế mạnh, lợi thế cạnh tranh so sánh, dựa trên lợi thế sẵn có là vùng nguyên liệu nông sản, vùng nuôi, vùng trồng từ đó vạch ra các chiến lược phát triển kinh tế về lâu dài. Có lẽ vậy nên ngay từ khi mới thành lập vào năm 2004, tỉnh Hậu Giang đã chọn 5 cây và 5 con có thế mạnh để hỗ trợ phát triển, 5 cây bao gồm : Cây lúa, mía, khóm, cây ăn quả, cây màu và 5 con là cá tra, cá thác lác, cá đồng, trâu, bò và gia cầm để đầu tư chiều sâu, tạo tiền đề phát triển cho ngành nông nghiệp cũng như làm tăng giá trị kinh tế thay cho bán nguyên liệu chưa chế biến.

          Trên cơ sở đó, tỉnh đã quy hoạch và tập trung đầu tư cho vùng lúa chất lượng cao trên 32.000ha, vùng mía nguyên liệu 13.000ha, vùng nguyên liệu khóm đặc sản (Cầu Đúc) 1.500ha, vùng nuôi trồng thủy sản 10.000ha, vùng trồng rau màu 12.000ha… Sau một thời gian, nhiều sản vật của Hậu Giang đã bắt đầu có thương hiệu, được người tiêu dùng ưa chuộng như: bưởi Năm Roi Phú Hữu, khóm Cầu Đúc, cá Thát lát, lúa Hậu Giang 2,…

 Trong số 6 tỉ USD xuất khẩu gạo hàng năm của cả nước, thì có phần đóng góp rất lớn của Hậu Giang, khi mỗi năm cung ứng trên 1 triệu tấn lúa, hiện diện tích canh tác lúa lên tới 80.000ha. Năm 2009, diện tích gieo trồng 191.000ha, năng suất bình quân 52,05 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha so với năm 2005. Trồng lúa chất lượng cao tập trung ở huyện Châu Thành A, Vị Thủy, Long Mỹ, Phụng Hiệp; riêng diện tích lúa đặc sản Hậu Giang 2 đã tăng 6.000 ha, tập trung ở huyện  Phụng Hiệp, Ngã Bảy, Vị Thủy, Long Mỹ, Châu Thành A.

 Hiện nay giá của mỗi kg đường trong nước đang ở mức trên 20.000 đ/kg tạo thế phát triển ổn định vùng nguyên liệu mía, diện tích trồng mía năm 2009 là 12.994ha. Hiện 90% diện tích mía trong vùng đã được trồng giống mới, năng suất bình quân 83 tấn/ha, tăng 7,4 tấn/ha so với năm 2005.

Ông Nguyễn Văn Đồng, giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết : “Hậu Giang đang mở rộng xây dựng vùng trồng mía nguyên liệu thêm 5.000ha nhằm đảm bảo cung ứng đủ nguyên liệu cho 3 nhà máy đang hoạt động có công suất bình quân đạt 8.000 tấn mía/ngày”.

           Với cây ăn trái đang tiếp tục được mở rộng và đầu tư thêm những loại cây có giá trị kinh tế cao như măng cụt, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc, khóm Cầu Đúc… Hiện nay diện tích cây ăn trái toàn tỉnh đã tăng lên thêm 438ha, nâng tổng diện tích lên 21.295ha,  sản lượng đạt 157.308 tấn, mang lại nguồn thu nhập lớn cho người trồng.

 Thủy sản được xác định thế mạnh thứ hai sau cây lúa, vùng nuôi thủy sản của Hậu Giang tập trung tại huyện Châu Thành, Phụng Hiệp, Vị Thủy, Tx.Vị Thanh. Phát triển thủy sản theo hướng nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến, nên diện tích mặc dù không tăng những sản lượng tăng nhanh. Diện tích nuôi thủy sản đạt trên 6.181ha, trong đó cá ao hơn 2.058ha, cá ruộng hơn 4.000ha; diện tích nuôi tôm, cá giống gần 50ha. Riêng diện tích nuôi cá ao, tập trung nuôi những sản phẩm chủ lực như cá tra, cá trê lai, cá rô đồng, cá thát lát và tôm càng xanh. Năm 2009, tổng sản lượng thủy sản đạt 43.016 tấn, tăng 65% so với năm 2005.

 Tính từ năm 2005 và dự báo năm 2010, tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp bình quân đạt 7-7,5%/năm. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản. Theo ông Nguyễn Văn Đồng, xác định đúng lợi thế cạnh tranh để ưu tiên đầu tư phá triển đã góp phần nâng cao thu nhập của người lao động trong khu vực nông nghiệp. Năm 2009 thu nhập bình quân đã tăng gần 200% so với năm 2005.

Dấu ấn 35 năm

Trong những năm đầu sau ngày giải phóng, do chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, phần lớn đất đai ở các vùng nông thôn Đồng Nai bị bỏ hoang (diện tích canh tác chiếm khoảng 30 – 40% quỹ đất), lương thực thiếu trầm trọng, bình quân lương thực đầu người năm 1975 chỉ đạt 90 kg, phải nhận chi viện từ Trung ương gần 35.000 tấn lương thực để giải quyết nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Sau 35 năm xây dựng và phát triển, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Đồng Nai đã vươn lên, trở thành một trong những tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất cả nước vào năm 2004, đạt 11,15 triệu đồng/người (trong khi bình quân cả nước là 8,72 triệu) và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân đạt 12,7%/năm (giai đoạn 2001-2005); cơ cấu kinh tế công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp tương ứng 57% – 27% – 16% vào năm 2004, đúng theo định hướng của nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, trong đó đưa ra mục tiêu công nghiệp giữ vai trò chủ đạo, tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

Kết thúc năm 2009, ngay trước thềm kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mặc dù trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước không mấy thuận lợi, nhưng Đồng Nai vẫn tiếp tục khẳng định được vị thế quan trọng của mình ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và trong cả nước nói chung. GDP bình quân đầu người đã đạt 24,95 triệu đồng/người (tương đương 1.403 USD), trong khi bình quân của cả nước là khoảng 1.200 USD; cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch theo đúng hướng phát huy các tiềm năng và lợi thế của tỉnh, phát triển theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: Công nghiệp xây dựng chiếm 57,3%; dịch vụ chiếm 32,8% và nông nghiệp là 9,9%.

Nhìn lại toàn bộ tiến trình phát triển đi lên này, một lãnh đạo của UBND tỉnh đã cho rằng, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cuộc tổng kết đánh giá, đặc biệt là nhìn lại giai đoạn hơn 20 năm đổi mới, về những bài học có thể rút ra từ thực tiễn và lấy đó làm kinh nghiệm cho mục tiêu phát triển giai đoạn tiếp theo. Một trong những quyết tâm lớn nhất đã được tỉnh theo đuổi quyết liệt là đã không ngừng đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nhiều công trình mới, trọng điểm theo hướng đồng bộ, hiện đại để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, làm cho diện mạo tỉnh ngày càng khởi sắc. Bên cạnh đó tỉnh đã tập trung giải quyết những vấn đề nhạy cảm nhất liên quan đến hoạt động thu hút đầu tư như: cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính sách về sử dụng đất, chính sách ưu đãi về tài chính đối với hoạt động đầu tư sản xuất – kinh doanh…

Với những giải pháp tích cực đó, Đồng Nai đã trở thành một địa điểm hấp dẫn về đầu tư và là một trong ba địa phương thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước sau 20 năm mở cửa đón nhận các luồng vốn FDI (1988-2008), với tổng số vốn đăng ký cộng dồn đạt hơn 14 tỉ USD.

Thành tựu quan trọng khác mà Đồng Nai đã đạt được còn là kết quả tích cực của nhiều năm đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện, tiềm năng, thế mạnh của từng vùng lãnh thổ, chuyển giao khoa học – kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, tạo ra những vùng chuyên canh quy mô lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần cải thiện đời sống nhân dân và cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp. Những bước tăng trưởng mạnh mẽ trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đã tạo ra lượng hàng hóa lưu thông phong phú, đa dạng, kích thích hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển. Bên cạnh đó, các loại hình dịch vụ như: bưu chính – viễn thông, vận tải, du lịch, tài chính – tín dụng,… cũng được đầu tư kịp thời, chuẩn bị sẵn sàng bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

Quá trình này đã thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều lĩnh vực và nhiều thành phần, mở rộng đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm cho khoảng 75,3 nghìn lao động/năm, đáp ứng kịp thời yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương. Kinh tế tăng trưởng nên sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng được quan tâm và đầu tư thỏa đáng (Đồng Nai đã có tỷ lệ xã, phường có y, bác sĩ đạt 100% vào năm 2004); từ đó trật tự an toàn xã hội ngày càng được giữ vững, khẳng định sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với an ninh – quốc phòng.

Trong kỳ họp mới đây của Đảng bộ tỉnh khi đánh giá tổng thể về các kết quả mà Đồng Nai đã đạt được trong giai đoạn 2006-1010, hội nghị đã thẳng thắng nhìn nhận thực tế và cho rằng mặc dù có tới 13/18 chỉ tiêu về kinh tế, xã hội, đã vượt và đạt mục tiêu đề ra, nhưng còn 5 chỉ tiêu chưa đạt, gồm tốc độ tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người theo giá cố định, tăng kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ ấp, khu phố văn hóa và tỷ lệ che phủ rừng. Đây là những chỉ tiêu rất quan trọng mà Đồng Nai cần phải hướng tới một cách quyết liệt hơn trong thời gian tới để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng giao thông – Phần 4

Đồng hành với quá trình sản xuất kinh doanh, kế tục truyền thống những năm trước, Cienco 5 luôn luôn quan tâm đến công tác xã hội. Chỉ riêng năm 2009, tổng công ty đã tổ chức và tham gia nhiều hoạt động, tiêu biểu là chương trình đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh mở đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa cho anh chị em thanh niên xung phong và hỗ trợ cho các chương trình nhân đạo khác với tổng giá trị trên 10 tỉ đồng.

Với bề dày thành tích và nỗ lực phấn đấu vượt bậc trên đây, tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên của Cienco 5 đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Huân chương Độc lập, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động…

Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, với hàng trăm công trình giao thông và dân dụng được hoàn thành, cùng những trang thiết bị xây dựng được hiện đại hóa, với một đội ngũ cán bộ, kỹ sư và công nhân lành nghề, Cienco 5 hôm nay có thể tự hào, vững bước tiến vào thời kỳ mới với quyết tâm cao hơn, thực hiện nhiều công trình có quy mô lớn hơn, hiện đại, xứng tầm với niềm tin yêu mong đợi của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước. Tập thể đơn vị Cienco 5 đặt quyết tâm kế thừa xứng đáng sự nghiệp của cha anh, phát huy truyền thống hào hùng của ban Xây dựng 67, xây dựng tốt mối đoàn kết nội bộ, làm cho thương hiệu Cienco 5 ngày càng tỏa sáng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng giao thông – Phần 3

Chỉ ba năm sau, vị tổng giám đốc từng là người lính này đã cùng các nhà lãnh đạo trẻ khác, lèo lái con thuyền Cienco 5 trở thành một đơn vị mạnh của ngành giao thông vận tải. Năm 2007, Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đã xếp Cienco 5 đứng đầu danh sách các doanh nghiệp xây dựng của ngành giao thông, lọt vào Top 200 doanh nghiệp đứng đầu Việt Nam. Tổng giám đốc Thân Đức Nam cũng nhấn mạnh thêm về sự bứt phá đi lên của đơn vị trong một thời gian ngắn như vậy còn do tác động tích cực của việc nhanh chóng cổ phần hóa 14 đơn vị thành viên, từ đó góp phần tăng thêm năng lực tài chính và tính cạnh tranh của toàn đơn vị.

Hiện nay Cienco đã trở thành một trong những đơn vị hàng đầu của ngành GTVT, được giao đảm trách nhiều công trình trọng điểm quốc gia, dấu ấn của Cienco 5 đã trải dài khắp cả nước qua hàng trăm công trình, dự án lớn nhỏ như: Xây dựng, nâng cấp, vĩnh cửu hóa hệ thống cầu cống và đại tu, cải tạo, trải thảm bê tông nhựa mặt đường các tuyến quốc lộ 1A, 14A, 14B, 19, 24…; cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các sân bay Phú Bài, Đà Nẵng, Nha Trang, Pleiku, các cảng biển Tiên Sa – Đà Nẵng, Sa Kỳ, Quy Nhơn, Phan Rí…; tham gia xây dựng công trình đường dây cao áp 500KV Bắc – Nam, đường giao thông các công trình thủy điện Yaly, Vĩnh Sơn; cải tạo nâng cấp hệ thống đường đô thị ở Đà Nẵng, Huế, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, đồng bằng Nam Bộ; liên doanh liên kết với tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước tham gia đấu thầu quốc tế và thắng nhiều gói thầu quan trọng như dự án QL1A đoạn Nha Trang – Bình Thuận, 4 gói thầu ADB3 – Quảng Ngãi – Nha Trang, cầu Tuyên Sơn (Đà Nẵng), thi công cầu Rạch Miễu nối Tiền Giang với Bến Tre. Nhiều dự án bất động sản do Cienco 5 đầu tư đã mang lại hiệu quả kinh tế cao như: Cao Sanh – Satô (Quảng Ninh), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Phú An (Cần Thơ) và Bắc Phan Thiết…

Khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng giao thông – Phần 2

Năm 1992, liên hiệp được chuyển thành tổng công ty Xây dựng công trình 5 và đến cuối năm 1995, theo quyết định 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ, tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco 5) đã chính thức được hình thành.

Trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, Cienco 5 phải đối mặt với nhiều thử thách cam go. Những người lãnh đạo Cienco 5 không thể quên giai đoạn năm 2004-2004, khi mà hàng trăm công trình thi công không mang lại hiệu quả, hàng chục công trình không thanh toán được hoặc chịu lỗ vì chủ đầu tư thiếu vốn, giá thành thi công thực tế vượt cao hơn giá trúng thầu… Đã làm cho Cienco 5 gánh nợ lên đến 3.000 tỉ đồng lúc cuối năm 2004, hơn 60 đơn vị trực thuộc và trên 17.000 cán bộ, nhân viên rơi vào tình trạng lao đao; nhiều lần bộ chủ quản đã thăm dò khả năng hợp nhất vào các tổng công ty khác.

Nhớ lại giai đoạn cam go đó, tổng giám đốc Cienco 5 ông Thân Đức Nam cho biết: “Khi về nhận nhiệm vụ ở đây chúng tôi đã thực sự rất lo lắng. Nhưng sau đó cả tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên đã đặt quyết tâm phải kế thừa truyền thống hào hùng của ban Xây dựng 67 một thời xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Chúng tôi xác định là phải chủ động nắm bắt thị trường chứ không phải đối phó với thị trường. Nếu trước đây mình cứ cố giành lấy thị phần bằng bất cứ giá nào thì bây giờ mình phải tạo ra ưu thế bằng cách xây dựng và phát triển thương hiệu từ các công trình, dự án cụ thể. Trong đó, kinh doanh đa ngành, đa dạng hóa sản phẩm có chất lượng, áp dụng thành tựu nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao để tạo ra sự khác biệt cũng là một kinh nghiệm quý báu. Chúng tôi không rời bỏ những dự án truyền thống về giao thông nhưng cũng chú trọng khai thác các dự án hạ tầng đô thị, các dự án nhà đất ở các địa điểm thu hút khách hàng… Nhờ vậy hiệu quả tăng cao và uy tín của Cienco 5 với khách hàng cũng được khôi phục dần”.

Khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng giao thông – Phần 1

Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5 – Cienco 5 (bộ Giao thông vận tải), tiền thân là ban Xây dựng 67 được thành lập tháng 4/1967 theo chủ trương của Trung ương với nhiệm vụ quan trọng là cùng với lực lượng quân đội tổ chức mở đường và chiến đấu, bảo đảm giao thông trên các tuyến đường Trường Sơn phục vụ vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Ngay sau khi thành lập ban Xây dựng 67 đã tiếp nhận lực lượng công binh, thanh niên xung phong từ các binh trạm, các tỉnh miền Bắc và Trung để tổ chức thực thi nhiệm vụ (thời kỳ cao điểm năm 1971 ban đã có số nhân sự lên đến 24.000 người).

Cho đến khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, ban Xây dựng 67 đã làm tròn nhiệm vụ mở đường và chiến đấu, bảo đảm giao thông trên 1.000km các tuyến Đông Trường Sơn và vượt Trường Sơn phục vụ vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam. Hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ của ban đã hy sinh anh dũng trong những năm chiến tranh ác liệt. Nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước đã được trao tặng cho các tập thể và cá nhân của ban Xây dựng 67 vì những thành tích và chiến công vẻ vang đã đạt được.

Sau năm 1975, ban Xây dựng 67 được đổi thành xí nghiệp Liên hợp công trình 3 để thực hiện nhiệm vụ phục hồi và xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất, phục hồi và làm mới hệ thống đường bộ, sân bay, bến cảng từ Quảng Bình vào đến Phú Khánh, Tây Nguyên. Năm 1983, trước yêu cầu của tình hình mới, bộ Giao thông vận tải đã quyết định sáp nhập xí nghiệp với khu Quản lý đường bộ 5 thành liên hiệp các Xí nghiệp xây dựng và quản lý đường bộ 5, để thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Việc hợp nhất này đã tạo ra sức mạnh tổng hợp để đơn vị có điều kiện hoàn thành nhiều nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi kỹ thuật cao như xây dựng vĩnh cửu hóa hệ thống cầu đường sắt đoạn tuyến Đà Nẵng – Vân Canh – Ba Ngòi và hệ thống cầu đường bộ trên các quốc lộ 1A, 14, 19, 24, 25, 27…; đại tu, phục hồi xây dựng mới hệ thống cầu cảng V037, Tiên Sa, Quy Nhơn, Nha Trang…