Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII – Phần 1

Nhìn lại lịch sử thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) của Việt Nam có thể tạm chia thành ba giai đoạn phát triển.

Giai đoạn 1991-1997: Mặc dù chưa có thị trường chứng khoán (TTCK), thực tế đã có một dòng vốn FII vào Việt Nam từ những năm đầu của thập niên 1990 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế mở cửa. Giai đoạn này chỉ có 7 quỹ được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD nhằm mục đích đầu tư tài chính tại Việt Nam. Trong đó có 4 quỹ đại chúng niêm yết tại một số thị trường quốc tế như Anh, Ireland… Sau khi Vệt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, giá trị giao dịch chứng chỉ quỹ của các quỹ này luôn cao hơn giá trị tài sản ròng. Tuy nhiên không lâu sau đó vào năm 1996 và 1997, giá chứng chỉ quỹ của 4 quỹ niêm yết này đã giảm mạnh và liên tục được giao dịch thấp hơn từ 43,6% – 47,7% so với giá trị tài sản ròng. Đây là giai đoạn khó khăn của các quỹ có mục tiêu đầu tư tại Việt Nam do cơ hội đầu tư còn hạn chế, thị trường tài chính còn manh nha chưa phát triển. Vào thời kỳ này số doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa rất ít. Từ 1992-1998 chỉ có 38 doanh nghiệp tư nhân được thành lập và 128 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

Giai đoạn 1997-2002: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1998, làn sóng đầu tư nước ngoài (gồm cả trực tiếp và gián tiếp) vào châu Á bị chững lại và giảm quy mô. Mặc dù Việt Nam được đánh giá là một trong số ít nước bị ảnh hưởng nhất nhưng tình hình vốn FII cũng không sáng sủa hơn các quốc gia trong khu vực. Trong thời gian 1998-2002, không những không có quỹ đầu tư mới nào được thành lập mà các quỹ thành lập trước đó lại đua nhau rút vốn hoặc giảm quy mô hoạt động. Trong số 7 quỹ đầu tư đã có hoạt động tại Việt Nam, 5 quỹ đã rút hoạt động, 1 thu hẹp quy mô đến 90%, chỉ còn lại duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập tháng 7/1995 với quy mô nhỏ nhất trong số 7 quỹ là còn tồn tại hoạt động cho đến nay.

Giai đoạn 2003 đến nay: Từ năm 2003 trở đi, dòng vốn FII vào Việt Nam mới thực sự được xem là phục hồi và ngày càng tăng lên cùng với việc môi trường đầu tư được cải thiện; cùng với đó là sự ra đời của hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở TP. HCM và Hà Nội cũng như chủ trương và quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn và nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các doanh nghiệp nước ngoài trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa từ 30% lên 49%…

Sự phục hồi của dòng vốn FII vào Việt Nam được tăng dần qua các năm và tăng đột biến trong năm 2006 và 2007. Theo số liệu của ngân hàng ANZ thì tổng mức vốn FII vào Việt Nam giai đoạn 2001-2006 ước khoảng 12 tỉ USD và năm 2007 khoảng 5,7 tỉ USD.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *