Bảy vấn đề cần tháo gỡ cho dòng vốn FII – Phần 3

Những vấn đề được nêu ra dưới đây không chỉ là những trở ngại hiện nay đối với sự phát triển bền vững của dòng vốn FII ở Việt Nam, mà cũng là những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài đã, đang và đang muốn tham gia vào thị trường vốn đầu tư gián tiếp ở Việt Nam.

  1. Chưa có định hướng rõ ràng về dòng vốn FII, chính sách chưa đồng bộ nhằm thu hút và quản lý một cách hiệu quả vốn FII. Đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam có những chính sách cũng như biện pháp cụ thể nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn cho nền kinh tế nói chung, các ngành kinh tế nói riêng, Tuy nhiên, đối với nguồn vốn FII thì những chính sách nhằm tăng cường khả năng thu hút của Việt Nam vẫn chưa được xây dựng chi tiết, cụ thể như đối với FDI. Đặc biệt, sau các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tâm lý chung đối với nguồn vốn FII là tương đối e dè, lo ngại trước những tác động của nguồn vốn này đối với nền kinh tế trong nước. Trên thực tế, cần có những phân tích, đánh giá đúng vai trò và ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực của nguồn vốn FFI, từ đó xây dựng chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, đóng góp và sự phát triển của TTCK và nền kinh tế
  2. Công tác thu thập dữ liệu và bảo vệ nguồn vốn FII phục vụ cho điều hành chính sách kinh tế vĩ mô không thể thực hiện được một cách chính xác. Hiện tại cơ quan chức năng chỉ kiểm soát được dòng vốn FII trên TTCK tập trung trên cơ sở cấp mã số giao dịch, còn đối với việc tam gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường tự do thì không kiểm soát được. Đối với ngân hàng Nhà nước, việc theo dõi hoạt động lưu chuyển của dòng vốn FII liên quan tới hoạt động đầu tư trên TTCK, cũng như hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư nói chung chưa được bóc tách từ hoạt động lưu chuyển ngoại hối nói chung, bao gồm cả lưu chuyển vốn liên quan tới hoạt động thương mại xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư (FDI và FII) hay các hoạt động khác trên tài khoản vốn.
  3. Việc phân công trách nhiệm, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý vốn FII còn chưa hợp lý. Chưa có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động quản lý, giám sát hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và hoạt động quản lý dòng vốn và phối hợp, chia sẻ thông tin trong quản lý vốn FII đã hạn chế đến việc tham vấn, hoạch định chính sách vĩ mô để điều tiết các dòng vốn này cũng như hoạt động TTCK.
  4. Hệ thống công nghệ thông tin, nhân sự phục vụ công tác quản lý, giám sát dòng vốn FII còn hạn chế. Với số lượng nhân sự hạn chế, hệ thống công nghệ thông tin hầu như chưa có, công tác quản lý hiện tại hoàn toàn thủ công, theo nguyên tắc giám sát từ xa và dựa trên số liệu báo cáo theo kỳ của các thành viên thị trường, khiến cho cơ sở dữ liệu về dòng vốn FII là không đầy đủ, không chính xác và kịp thời. Năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế.
  5. Thị trường tài chính chưa phát triển, còn thiếu tính đồn bộ và yếu tố phát triển bền vững. Đây vừa là nguyên nhân, vừa là hạn chế trong việc thu hút dòng vốn FII cũng như duy trì sự ổn định của dòng vốn này. Một khi thị trường tài chính phát triển, minh bạch, sản phẩm tài chính đa dạng, cơ chế xác định giá chứng khoán vận hành theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh, đảm bảo sự hợp lý trong giá chứng khoán thì đây là những yếu tố quan trọng đảm bảo dòng vốn FII ổn định, giảm thiểu nguy cơ đào thoát vốn.
  6. Một số cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu rõ về vốn FII, nắm bắt chưa đầy đủ về cơ chế vận hành của dòng vốn này. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh hoạt động thương mại thì dòng chảy vốn đầy tư và nhân lực sẽ được khai thông. Đây không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm trong việc mở cửa thị trường để tiếp nhận những dòng lưu chuyển này. Tuy nhiên, dòng vốn FII mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tiềm tàng rủi ro nhất định. Vì vậy, thách thức đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước là phải giám sát được dòng vốn này và không nên ngăn cản bằng biện pháp hành chính.

7. Việc tiếp cận nhà đầu tư nước ngoài, TTCK nước ngoài của các tổ chức phát hành Việt Nam còn hạn chế. Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể tham gia TTCK Việt Nam bằng cách tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm tài chính, chứng khoán phát hành trên lãnh thổ Việt Nam. Việc phát hành chứng khoán hoặc hỗ trợ các tổ chức lưu ký quốc tế phát hành các loại chứng khoán phái sinh (chẳng hạn chứng chỉ lưu ký phát hành tại nước ngoài) dựa trên chứng khoán cơ sở phát hành tại Việt nam chưa được quan tâm đúng mức.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *