TP.HCM trên đường vươn lên vị thế mới – Phần 2

Đến động lực R&D

Nhằm khai thác tiềm năng và nguồn lực nội sinh khá mạnh về nghiên cứu, thiết kế và chế tạo của ngành cơ khí thành phố, lãnh đạo TP.HCM từ năm 2000 đã quyết tâm đầu tư lớn cho chương trình thiết kế, chế tạo các loại thiết bị mới với công nghệ tiên tiến và chi phí thấp; chương trình này không chỉ tạo động lực cho sự phát triển của ngành cơ khí chế tạo, tiếp thu và nội địa hóa công nghệ tiên tiến của nước ngoài nhằm nâng cao năng lực chế tạo của các doanh nghiệp cơ khí chế tạo máy trong nước; mà còn có một mục đích quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp của thành phố đổi mới thiết bị sản xuất, thay thế thiết bị nhập khẩu.

Tháng 2/2000, UBND TP.HCM đã có Chỉ thị số 04/2000/CT-UB-KT về việc triển khai chương trình “Hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa với chi phí thấp, tạo ưu thế cạnh tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu”; tiếp sau đó là chương trình “Hỗ trợ doanh nghiệp thiết kế chế tạo thiết bị thay thế ngoại nhập với chi phí thấp”.

Sau một thời nghiên cứu, xác định cách thức thực hiện, giai đoạn năm năm trở lại đây, chương trình trên đã thu về không ít “quả ngọt.” Hai mươi dự án thiết kế chế tạo thiết bị mới đã được triển khai, tất cả đều xuất phát từ đơn đặt hàng của các doanh nghiệp và 80% dự án thuộc các lĩnh vực ưu tiên của thành phố (cơ khí chế tạo, điện tử-công nghệ thông tin, hóa dược, nhựa-cao su). Các đơn vị chế tạo đã chuyển giao được 265 sản phẩm cho các doanh nghiệp với giá bán rẻ hơn từ 20-60% so với giá nhập khẩu, tiết kiệm được gần 15 triệu USD. Bên cạnh đó, các trường, viện và doanh nghiệp cũng đang thực hiện 15 dự án chế tạo robot công nghiệp.

Cùng với đó, tháng 2/2009, UBND thành phố đã ban hành chính sách hỗ trợ lãi vay từ 50-100% đối với các dự án đầu tư sản xuất hoặc ứng dụng công nghệ sản xuất mới theo hướng hiện đại, có giá trị gia tăng cao và tính chất đột phá. Đến nay đã có 76 dự án được phê duyệt hỗ trợ lãi vay với tổng vốn 6.405 tỉ đồng, trong đó có 26 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp với nguồn vốn 3.022 tỉ đồng. Chương trình này hiện vẫn tiếp tục được triển khai mở rộng.

Nhờ những chính sách trên, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng của ngành công nghiệp đã dịch chuyển dần từ “chiều rộng” sang “chiều sâu”, tỷ trọng các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh có xu hướng tăng dần. Theo Sở Công thương TP.HCM, giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006-2010 tăng khoảng 12,2-12,5%/năm (giá trị gia tăng đạt 10,1%/năm), tăng gấp 1,85 lần so với giai đoạn 2001-2005, chiếm 28% tỷ trọng cả nước và 46% vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong đó, tỷ trọng các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển của thành phố liên tục chiếm trên 50% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp và tăng dần mỗi năm.

Đặc biệt, các ngành công nghệ cao như điện tử, công nghệ thông tin… ở thành phố cũng được chú trọng thúc đẩy phát triển và đã có nhiều bước tiến mới khi kinh tế chung tăng trưởng với xu hướng tất yếu của quá trình điện từ hóa, tin học hóa trong quản lý sản xuất và kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này này không ngừng tăng nhanh. Doanh thu của ngành công nghệ thông tin tăng trưởng hơn 30% mỗi năm, năm 2009 đạt 37.000 tỉ đồng. Doanh thu hàng năm của ngành điện tử và công nghệ thông tin của thành phố chiếm 40% doanh thu ngành này cả nước. Riêng khu công nghệ cao TP.HCM (quận 9) đã có 20 dự án đi vào hoạt động, trong đó có 5 dự án có triển khai hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D),  giá trị xuất khẩu chiếm 98,7% tổng doanh thu từ sản xuất giai đoạn 2006-2010.

Trong giai đoạn sắp tới TP.HCM đặt mục tiêu tập trung phát triển hơn nữa các ngành công nghệ cao vào khu công viên phần mềm Quang Trung để nâng cao doanh số và kim ngạch xuất khẩu; phủ kín giai đoạn I và triển khai nhanh giai đoạn II của khu công nghệ cao với nhiều cơ chế mới. Bên cạnh đó sẽ đẩy mạnh phát triển ngành sản xuất và gia công phần mềm, sản xuất chip điện tử và xây dựng chính sách phát triển ngành công nghiệp số…

Với đà phát triển khá nhanh như vậy đã kéo theo lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng nhanh chóng, chiếm tỷ trọng lớn dần theo từng năm. Năm 2006 khu vực dịch vụ chiếm 51,3% GDP, năm 2010 đã tăng lên 54%; mục tiêu đến năm 2015 sẽ chiếm 57% GDP. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân của lĩnh vực dịch vụ giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 12,2%/năm, cao gấp 1,2 lần so với giai đoạn 2001-2005. Các cơ sở sản xuất công nghiệp ở trong thành phố sau khi được di dời về các địa phương lân cận thì hầu hết mặt bằng cũ được chuyển đổi công năng sang phục vụ cho các ngành dịch vụ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *